Quang Hà Nội PDF. In Email
Viết bởi Từ Nguyên Tĩnh   
Thứ ba, 14 Tháng 12 2010 20:43

Quang Hà Nội

Truyện của Từ Nguyên Tĩnh

Quang Hà Nội

Chắc mỗi người cũng có một người bạn Hà Nội. Tôi có Quang là bạn. Người khác cũng nói họ là bạn của Quang,  Quang Hà Nội.

Quang là dân Hà Nội gốc, làng Nghi Tàm là nơi trồng hoa nổi tiếng, nhà ngay bên Hồ Tây. Ngồi ở nhà Quang nghe được cả tiếng sóng vỗ ì ọap....


Với dân nhà quê một cục như tôi, cái gì của Quang cũng hay cả. Chưa thấy người, nghe tiếng thôi cũng làm ta dễ chịu. Không quá ngọt ngào uốn éo bắt chước giọng của ai đó, đóng giả là dân thành thị.Tôi cố bắt chước nhưng nói lâu thì lộ ra cái đuôi nhà quê liền. Âm áp, nhẹ nhõm, khoáng hoạt cho người nghe. Cảm giác ấy ai cũng được hưởng, mà không diễn đạt nổi. Khuôn mặt của Quang thật dễ chịu. Không làm duyên, sự hấp dẫn này như trời ban cho anh ta.



Thật vinh hạnh cho ai khi có người bạn như thế. Nên tội gì tôi lại không khoe với bạn chuyện này. Anh là lính Hàm Rồng. Hai đại đội của trung đoàn 213 vào đánh nhau ở Hàm Rồng đấy. Đại đội 4 và 5. Anh ít kể cho ai nghe chuyện của mình vào đánh nhau ở Hàm rồng thế nào. Tôi quen anh, nếu không nói quá, ít ra là từ năm 1966 hay 1968 lúc đó...Vì không bao giờ ngồi với nhau nhắc lại cả. Nhưng công bằng mà nói, anh làm nhân viên của Ban Chính trị trung đoàn, hay "tham mưu" cho họ triệu tôi và một số người khác lên làm những chuyện lặt vặt, hoặc đi "hội diễn văn nghệ quần chúng". Làm lời cho những cuộc đi triển lãm ở các trận địa khi máy bay Mỹ ném bom hạn chế. Điều tôi lên làm giáo viên văn hóa, mà tôi cũng nhận, thật đáng xấu hổ họ lại tưởng tôi là cái anh viết báo có bài in, văn hóa chắc là cao. Cũng có khi anh xuống trận địa cho tôi một tập thơ hay một cuốn sách, "binh pháp Tôn tử" chẳng hạn. Đọc, thấy mình ở một đẳng cấp khác. Tôi ít khi hỏi về cuộc đời binh nghiệp của Quang, biết rằng anh nhập ngủ năm 1964, có nghĩa anh vào bộ đội trước tôi một năm.Cái toát yếu ở Quang là cái chất Hà Nội. Anh nói đến cái thú vị ở những cuốn sách đã đọc, nhỏ nhẹ, không có vẻ gì là khoe cả. Anh không hề viết một mẩu báo chí, thơ văn; vậy mà tôi vẫn nể...Tôi không tìm ra ở anh cái thủ đoạn của sự cầu mong hay bon chen trong cuộc đời người lính, dù ở gần những người có chức quyền lúc bấy giờ, chính ủy hoặc chủ nhiệm chính trị của trung đoàn. Họ nói với nhau:Quang Hà Nội nó đi đâu nhẩy!- Thật đấy, Quang có nét gì đấy, rất Tây. Mặt hồng hào. Có điều gì sợ làm phật lòng người mình đang tiếp chuyện mặt anh đỏ dừ, làm ta thấy mình thật chả ra làm sao, tự vấn lương tâm làm điều gì xúc phạm tới anh chăng? Nhưng con người bổn phận, kín đáo và nền nếp đó cũng chẳng gặp may mắn gì đâu. Anh cũng chỉ là nhân viên câu lạc bộ của trung đoàn. Chắc không ai nghĩ là có ngày anh sẽ có một chức vụ gì đó, sĩ quan chẳng hạn. Chính chúng tôi là bạn với anh, chơi với anh mà cũng tránh bàn, quan tâm đến cái điều mà như cách nói :"sự tiến bộ" ấy mà. Tốt với nhau, vui cái đời lính là được rồi. Tôi sẽ không nói gì nữa, có nói nhiều thì vẫn loanh quanh về anh. Mà anh là dân Hà Nội, có cái chuyện như tôi sắp dẫn ra đây. Tôi thắc mắc về chuyện Quang bao năm ở Hàm Rồng mà không để lại một dấu vết nào, cái chuyện yêu đương mà hơi hướng còn phảng phất như những người lính khác.Ví dụ như bỏ trận địa xuống Quan Nội, hay Đông Quang để gặp một người con gái nào đấy. Sau chiến tranh đã mấy chục năm rồi, chắc có kể lại cũng mang dự vị ngọt ngào có màu sắc huyền thoại như những câu chuyện chiến trận. Lúc này chúng tôi đang có mặt trên đồi Không Tên nay đặt tượng đài Thanh niên xung phong, mà ngày đầu 3 và 4/4/1965 đại đội 4 pháo 37ly của Quang phải chia thành hai đặt trận địa trên đồi Không Tên và Lều Vịt...Quang vẫn cởi mở như xưa, tay cầm máy ảnh hoặc máy quay phim "dô" cho người ta đứng vào một vị trí nào đó để chụp, quay cho nó có thần.

Tôi, biết Quang kể từ khi anh rời đại đội 12 ở Bãi Sỏi lên trung đoàn làm nhân viên câu lạc bộ. Quang kẽ những áp phích và pano cho trung đoàn. Người kẽ chữ đẹp thì hầu như ở đại đội nào cũng có, nhưng "kẽ vẽ" như Quang thì chỉ một. Một hàng khẩu hiệu dài dằng dặc, anh chỉ cần kẽ chữ đầu và chữ cuối, lấy cán bút đo "tưởng tượng" là y như chữ đều chằn chặn. Là con "hà nội" sạch bong mà không gây cho người ta một chút mảy may, gợn lên chất "tiểu tư sản" thì cũng lạ...Từ 1968, Quang đã lên làm nhân viên câu lạc bộ, sau này thì tôi có dịp tiếp xúc nhiều với anh, Quang cứ tỏa cái vẻ dễ chịu như vậy trong cả cuộc chiến tranh. Như phần lớn những người lính của đại đội 4 trung đoàn 213, anh kéo pháo vào Hàm Rồng từ tháng 2/1965. Lúc đó Hàm Rồng với anh đẹp lắm. Hai bên cầu là đường cho người đi bộ, hàng lan can có đèn sáng trưng soi sáng hai ngọn núi Rồng và núi Ngọc thật là huyền diệu. Anh sống với những buổi trưa ra bãi sồng Hồng, với những cuộc hành quân trên phố xá Hà Nội khi tuổi đang trưởng thành, nhưng với Ham Rồng kỹ niệm với anh lại khác. Trung đoàn của anh đi Lào vì vậy chỉ đại đội 3 của anh vào đây chiếm lĩnh trận địa, đồi Không Tên không đủ chỗ để đặt sáu khẩu pháo đành chia ra làm hai ở cả Lều Vịt. Người dân Đông Quang ra vào trận địa hồn nhiên như chưa hề có điều gì nghiêm trọng sẽ đến. Sau này lấy quân thêm ở Hà Tây mà thành lập thêm một đại đội 5, đóng quân ở Đình Hương. Nhưng đơn vị của Quang hầu như ít ai "động đến" vì phối thuộc với 234 và quân của tỉnh đội. Sau này 234 ra Thủ đô, trung đoàn 228 vào thay thì hai đại đội 4 và 5 thành đại đội 8, 10 và 12...thậm chí có những liệt sĩ hy sinh ở Hàm Rồng nhưng trong bảng vàng vẫn ghi là chiến đấu ở... Người ta thấy Quang công việc nhàn nhã, lo sách báo cho trung đoàn. Xuống các đại đội truyền một nhiệm vụ gì đó, về phong trào "ca hát", về chuyện học "bổ túc" cho đơn vị...Những việc đó về lâu dài thì cần kíp nhưng trước mắt người lính cần có sức khỏe để chiến đấu, có niềm vui lạc quan để đi vào chiến đấu "thanh thản như người nông dân vừa cày xong thửa ruộng". Nên ngoài mang ý kiến "của trên" còn phải vận động, người ta thấy hợp lý và "dễ thương" nơi Quang là "chất Hà Nội" thanh lịch mà chân chất đến lạ. Tôi là cộng tác viên của báo mà cũng cảm và mến Quang, anh xởi lởi, dịu dàng mà vẫn bí mật "như người Hà Nội". Thỉnh thoảng, Quang dúi vào tay một tập sách, hoặc tạp chí văn nghệ quân đội mà như một đặc ân, anh không nói gì, thậm chí mặt hơi đỏ ra, do lời cám ơn của tôi hơi quá: Quí hóa quá... thủ trưởng ơi! Tôi gọi anh đấy. Cuộc sống cứ thế mà trôi qua, tôi tưởng như loại tôi có dính tí "cải cách" chứ Quang Hà Nội chẳng lẽ lại dính tiểu tư sản hay sao?

Mấy chục năm sau, khi anh không còn làm chính trị viên văn công Phòng Không nữa, về làm cây cảnh ở làng Nghi Tàm, nơi lấy nền cảm xúc cho người bạn của anh nhạc sĩ Ngọc Khuê sáng tác bài hát "Làng lúa làng hoa".Tôi cứ thắc mắc một điều, một người hiền dịu, dễ thương như Quang Hà Nội, tại sao không được một người con gái nào của Hàm rồng yêu mến, anh vào Đảng từ khi mới có cuộc chiến tranh sảy ra ở Hàm Rồng, là nhân chứng ít ỏi có tới 10 năm hai tháng lăn lộn trên mãnh đất này. Tôi chất vấn Quang, thậm chí còn ra vẻ, cho là có gì "không bình thường" Vẫn giọng nhè nhẹ, rất Hà Nội, Quang tâm sự. Tôi rời trường cấp ba Chu Văn An vào năm học lớp chín, ngày 15/10/1964, không khí nô nức lên đường sau vụ gây hấn của giặc Mỹ ở vịnh Bắc Bộ. Tập trung ở Quận và hành quân lên Ưng Hòa, đóng ở Tảo Dương Văn. Lúc này mới biết tin anh Nguyễn Văn Trỗi mất.Vào bộ đội được huấn luyện chương trình thời chiến vì lúc này giặc Mỹ đã leo thang bắn phá ra Quãng Bình và Nam Lào. Tấm gương hy sinh của anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi thôi thúc những người lính trẻ mong được ra chiến trường chi viện cho đồng bào miền Nam ruột thịt. Câu nói của anh hùng Nguyễn Viết Xuân "Nhằm thẳng quân thù mà bắn " không chỉ với người lính cao xạ mà với cả nước, thành khúc hát làm xao xuyến lòng người lúc ra trận. Ai mà không xúc động khi đài tấu lên lời ca Quãng Bình, Vĩnh Linh lúc này? Một câu chuyện mà tôi không sao quên được đó là một đồng ngũ với tôi, anh Nguyễn Công Nguyên, quê Hà Tây. Là lính mới nhưng anh đã có vợ con rồi. Có lẽ là cán bộ địa phương được động viên lên đường đi chiến đấu, nhưng dù sao thì vẫn là binh nhì, tập "một hai" và những bài "xạ kích" đầu đời. Chắc từng trải nên anh mới nói nhỏ với tôi: - Cậu là học sinh trường Chu Văn An chứ gì? - Vâng! Vào đây cũng vài chục kia đấy!- Tôi khoe về trường mình. - Đây về Hà Nội vài chục cây số...Anh Nguyên không nói hết câu. - Thì sao cơ? Tôi hỏi lại. - Thế này! Điểm danh xong cậu có thể về. - ấy chết, anh xuôi dại em, kỷ luật thì sao? - Cậu này! Anh nói nhỏ, mắc màn, để đôi dép cho ngay ngắn, cán bộ đi kiểm tra nhìn thấy dép tưởng là cậu ngủ. Có gì mình chịu cho. Dừng lai một hồi, chắc nhớ bạn gái, phải không? Tôi hỏi Quang: - Ông có về không? Quang cười. Anh ấy vào chiến đấu ở Hàm Rồng và hy sinh anh dũng bảo vệ nhịp cầu. Mấy chục năm sau, anh biết không; Quang là vậy đấy không phải riêng tôi mà với ai nói chuyện cũng xưng anh và tôi một cách tự nhiên, làm cho người tiếp chuyện với mình thấy câu chuyện đứng đắn và dễ chịu. Tôi đã gặp con anh ta nay là phó bí thư Thành ủy Hà Nội. Máu me làm báo gợi cho tôi làm một cái gì. - Ta có thể gặp con của người lính Hàm Rồng quê Hà Nội ấy không...

– Thú thật, tôi cũng ngại! Quang đỏ mặt, cái đỏ mặt cố hữu khi anh còn là một người lính, cả đến lúc đã nên ông cũng vậy. Tôi không ép Quang, nhưng đến lúc đài truyền hình, đưa hình người con và những kỷ vật của người cha- Liệt sĩ chiến đấu ở Hàm Rồng, tôi mới tiếc. Định gọi điện trách Quang, nhưng có lẽ đó là tính cách của Quang Hà Nội. Tôi mới hỏi dồn Quang điều "bí mật" của đời lính. Thật lạ, chã lẽ sống ở Hàm Rồng bấy nhiêu năm, một người dễ mến như anh mà không để lại chút vương vấn nào trong trái tim những cô gái Xứ Thanh hay sao. Anh không để lại "một dấu vết của chiến ttranh" thì có mà đi tu. Một người dịu dàng, tế nhị chứ không thô kệch nhà quê như tôi, làm sao lại không lọt vào mắt các cô gái, mắt không tròng hay sao? Quang cười. Ngày mới kéo pháo vào Hàm Rồng, hai bờ sông Mã dừa xanh ngan ngát. ở bên cạnh núi Ngọc có một cửa hàng bách hóa vui lắm. Cạnh là một nhà bưu điện, nhà bưu điện ở đâu cũng vậy, dẫu không to lớn nhưng thân thiện một cách lạ lùng. Tôi có mấy lần được cử sang lấy thư và báo. Anh biết không, lúc này những xóm nhỏ Nghĩa Phương bên đầu cầu là những ngôi nhà xinh xắn của xóm thợ. Họ là những công nhân bốc vác trên bến phà, trước khi có nhịp cầu họ vẫn sống lam lũ, quanh năm bên bến sông này. Một xà lan chở than từ Quảng Ninh về là có những người công nhân này bốc những bì than nặng nhọc từ xà lan lên và bốc gạo từ nhà máy xay xuống. Lần đầu tiên nghe một chàng trai từ sà lan dướn cổ lên nhìn cô gái quấn chiếc khăn thâm đội từng thúng than đen đúa, mồ hôi và nước từ than chảy đầm cả khuôn mặt: Ơ...ớ...ơ...Thuyền than mà đậu bến than Thấy em vất vã cơ hàn...anh thương...ơ...ớ...là... Một cô gái, tay vừa cởi bỏ tấm khăn đen, lộ ra khuôn mặt, kỳ lạ.Nắng nôi , than bụi không che nổi khuôn mặt trắng hồng đầy kiêu hãnh. Ơ...hơ...ơ...Anh thương nói thật rằng thương Vượt...( muôn) ngàn sóng cả đại dương... em chờ...(vẫn chờ là...) Thú thật, tôi chỉ được mục kích người đi trên bến sông Hồng, với những con tàu, xà lan...với nước dội vào mạn tàu phát ra tiếng va đập buồn bã...Không hiểu những người hò kia họ có quen nhau không, đằng sau những câu hò ấy để lại cho nhau tình cảm có sâu nặng không ? Trong những ngày cả thị xã Thanh Hóa, mà không cả bên Hoằng Hoắ , Đông Sơn cũng nô nức đào đắp công sự chuẩn bị cho cuộc đánh trả có một không hai trong lịch sử cuộc chiến tranh phá hoại này, tôi mới hiểu người Thanh Hóa... - Sao không nói là con gái xứ Thanh? Tôi chen ngang hỏi lại Quang. - Trận địa lúc đó còn hồn nhiên lắm. Quang cười trả lời tôi. Các em ra trận địa một lúc lại về nhà. Đêm đến ghánh ngụy trang ra, hoặc chặt tàu dừa để quấn nòng pháo, ngụy trang thành cây dừa...Chúng tôi có niềm tin ngây thơ từ các em truyền sang, anh Quang có tin không nào, máy bay Mỹ từ trên trời chắc nhìn xuống trận địa ta sẽ thấy một rừng cây. Chúng tôi làm bộ mặt giận dữ để đuổi Phúc và nhiều các cháu khác của xóm nhỏ Đông Quang này rời khỏi trận địa, trên thông báo những ngày ác liệt ấy sắp sảy ra. Điều đó không còn mơ hồ nữa. Trên tận tít trời cao là máy bay U2 kéo theo những đường chỉ mờ, như thể những tia khói, F101 thì bay thấp vèo qua trận địa, không nhanh không kịp ra pháo. Từ những trạm ra đa, trạm quan sát, tình báo cho biết hạm đội của Mỹ, căn cứ không quân từ Thái Lan, Guy-Am đang ráo riết hoạt động...Những cháu học sinh đi vào chiến trận cùng chúng tôi hồn nhiên như thế đó. Ban đầu là gọi rất chung: Các chú bộ đội! P, cô gái ấy đã đến trong cuộc đời tôi tự nhiên như chiến trận vậy đấy. Tháng chín năm 1966, tôi bị thương trên cao điểm 134 không hiểu nguồn tin ở đâu mà em tưởng tôi hy sinh, P đi hết các trận địa tìm không thấy. Lên cao điểm 134 thì lúc này đại đội lại chuyển về Bãi Sỏi. Chuyển ra Viện quân y 5 ở Ninh Bình, không hiểu sao em biết được lại tìm ra. Hỏi thăm Quang, người ta nói, Quang đã hy sinh rồi. Em bảo, nhất định anh Quang Hàm Rồng không việc gì. Sau này thì tôi trêu em, nếu chẳng may anh hy sinh, suốt đời em ở vậy hay sao. Em nói, điều ấy đừng bắt em trả lời, chiến tranh rất dễ sảy ra, ai mà đoán định được. Tôi gặp Quang sau lần đi học "sĩ quan hụt", tôi hỏi anh: Vì lý do gì mà không được chấp nhận vào trường. Quang cười:- Thấy ông già khai là thánh phần tiểu tư sản thì khai vậy thôi...Nghe người khác kể lại, cô P động viên Quang, em không muốn anh rời Hàm Rồng mà ra đi. Không được đi học là may đấy...Thật buồn, dịp anh đi triểm lãm toàn quân về cuộc chiến đấu của quân dân ta ở Hà Nội, P đã đến "làng hoa" thăm thày mẹ anh.Ai cũng quý mến, nhưng điều không thể khắc phục được, là không thể chuyển nổi hộ khẩu về Hà Nội. Tình yêu, dù được thử thách hàng chục năm, trong lửa đạn, vậy mà phải ngậm ngùi vì cái lẽ sống một thời. Tôi có dịp đi cùng Quang lên Thái Nguyên, thật lạ cha của Quang cũng là một lão thành cách mạng, ông từng làm trưởng ty công nghiệp của Thái Nguyên, vậy mà anh vẫn mang thành phần tiểu tư sản đến tận bây giờ. Tôi hỏi anh: - Có ông bác là nhà lý luận, có chân trong lãnh đạo một nhà xuất bản lớn sao anh không chịu viết lách? - Thú thật tôi rất yêu mến văn chương, nhưng viết có lẽ không phải khã năng của mình.

Quang trở về Nghi Tàm, với vài chục mét đất làm cái nghề mà cha ông từng làm, trồng hoa và xén tỉa cây cảnh. Bạn nên tìm đến Quang Hà Nội mà thưởng thức cây cảnh. Ra đến Hà Nội mà hỏi Quang Hồ Tây e có người chỉ không chính xác, phải hỏi Quang Nghi Tàm, nơi mà bạn sẽ gặp một làng hoa, một người lính quê Hà Nội chiến đấu ở Hàm Rồng. Biết về nghề. Yêu mến nghề. Hết chiến tranh lại quay về làng hoa Nghi Tàm trồng hoa. Hiểu được tiếng nói của cây cảnh, hoa lá.

Bạn hỏi ai? Tôi có một người bạn, Quang Hà Nội ở Nghi Tàm.

Thu 2010. TNT



Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 07 Tháng 4 2017 16:21
 

Add comment


Security code
Refresh

Copyright © 2017 Bản quyền thuộc về Lang lua lang hoa.
Joomla! là phần mềm miễn phí được lưu hành theo giấy phép GNU/GPL.
 

Nghe nhạc Ngọc Khuê

Có thể bạn chưa xem

 

 

 

 
Sa Pa thành phố trong sương
Nhạc và lời: Nhạc sĩ Vĩnh Cát
Người hát: Ngọc Khuê





Trường mình Lớp mình
Nhạc và lời: Ngọc Khuê
Cô giáo và HS Trường Mầm non B Hà Nội biểu diễn


Đây là Quê Hương của tôi
Nhạc và lời: Ngọc Khuê
Ca sĩ Mai Lan


Ngàn năm sau
anh sẽ lại chọn em
Nhạc: Ngọc Khuê
Lời thơ Nguyễn Văn Khắc
Ca sĩ: NSUT Đức Long





Chiều Hoa Sen
Nhạc Ngọc Khuê - Thơ Nguyễn
Trọng Hoàn - Ca sĩ Thanh Nga


Ca khúc "Đất và Mẹ"
NS Ngọc Khuê - Thơ Hà Linh
Ca sĩ Hương Lan (Đài TNVN)


Trung tâm Báo chí và Hợp tác
Truyền thông Quốc tế CPI


Hạt nắng hạt mưa
ST Ngọc Khuê - Ca Sĩ Thuý Ngân


Tình yêu với người chiến sĩ
NS Ngọc Khuê - Ca Sĩ Mai Trang

Thầy cho Cái Chữ -
Lời theo thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên
NSUT Hồng Ngát trình bày

Mãi là Em - Mùa Xuân
Lời trích thơ Đoàn Hoài Trung
Ca sĩ Bảo Yến

Khúc hát Biên đội bay 4 người
(Trong CT "Chúng tôi là chiến sĩ")